Chủ tịch Hồ Chí Minh – Vầng Thái Dương Rạng Rỡ Soi Đường Dân Tộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh, một con người được sinh ra từ chân lý, là biểu tượng đẹp đẽ nhất của dân tộc Việt Nam. Dù Người đã đi xa, như lời ca tiễn biệt còn vang vọng: “Phòng lặng rèm buông tắt ánh đèn”, nhưng cuộc đời, sự nghiệp và tấm gương đạo đức vĩ đại của Người đã trở thành bất tử. Người là sự kết tinh và tỏa sáng những giá trị ưu tú nhất, tốt đẹp nhất của trí tuệ và đạo đức Việt Nam. Phẩm chất và đạo đức của Người mãi mãi là ngọn đuốc soi đường, là tấm gương sáng ngời cho toàn dân tộc noi theo.
Như ca dao xưa đã khắc ghi: “Tháp Mười đẹp nhất bông sen/ Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”. Ngày nay, tuy Bác đã đi xa, nhưng những giá trị đạo đức, những truyền thống quý báu mà Người để lại vẫn mãi là tấm gương sáng ngời cho nhân dân Việt Nam và nhân loại soi chiếu. Qua những câu chuyện ngắn dưới đây, chúng ta sẽ thêm cảm nhận sâu sắc về vị Cha già kính yêu của dân tộc, từ đó biết trân trọng hơn từng phút giây được sống, được cống hiến và được làm theo lời Bác dạy.
Câu chuyện số 1: Chiếc áo ấm – Bài học về sự quan tâm, chăm lo sâu sắc của Bác Hồ
Vào một đêm mùa đông năm 1951, tiết trời se lạnh với cơn gió bấc tràn về mang theo những hạt mưa phùn đặc quánh, khiến không khí thêm phần giá buốt. Thung lũng bản Ty chìm trong giấc ngủ yên bình, chỉ có một ngôi nhà sàn nhỏ vẫn còn ánh đèn khuya. Đó là nơi Bác Hồ vẫn miệt mài làm việc, như bao đêm bình thường khác. Bỗng, cánh cửa nhà sàn hé mở, bóng Bác hiện ra. Người bước xuống cầu thang lặng lẽ, đi thẳng về phía gốc cây nơi tôi đang đứng làm nhiệm vụ gác đêm.
“Chú làm nhiệm vụ ở đây có phải không?” – Giọng Bác trìu mến.
“Dạ thưa Bác, vâng ạ!” – Tôi kính cẩn đáp.

“Chú không có áo mưa?” – Bác tiếp tục hỏi, ánh mắt lộ rõ sự quan tâm.
Tôi ngập ngừng, nhưng rồi mạnh dạn trả lời: “Dạ thưa Bác, cháu không có ạ!”
Bác nhìn tôi từ đầu đến chân, ánh mắt lộ rõ vẻ ái ngại: “Gác đêm, có áo mưa, không ướt, đỡ lạnh hơn…” – Nói rồi, Bác từ từ quay vào nhà, dáng vẻ trầm ngâm suy nghĩ.
Một tuần sau, anh Bảy cùng một vài đồng chí nữa mang đến cho chúng tôi 12 chiếc áo dạ dài, là những món quà chiến lợi phẩm quý giá. Anh Bảy cho biết: “Bác dặn phải cố gắng tìm áo mưa cho anh em. Hôm nay có mấy chiếc áo này, chúng tôi mang lại cho các đồng chí.” Đối với chúng tôi, được nhận một chiếc áo ấm trong hoàn cảnh đó đã là điều vô cùng quý giá. Nhưng điều quý giá và hạnh phúc hơn cả là biết rằng, Bác đã trực tiếp quan tâm, săn sóc cho chúng tôi bằng cả tấm lòng yêu thương vô bờ bến của một người cha. Sáng hôm sau, tôi khoác lên mình chiếc áo mới nhận được, đến nơi Bác làm việc. Bác thấy tôi, liền nở nụ cười và khen: “Hôm nay chú có áo mới rồi.”
“Dạ thưa Bác, đây là áo anh Bảy đem đến cho tiểu đội chúng cháu, mỗi người một chiếc ạ.” – Tôi thưa lại.
Nghe tôi nói, Bác rất vui. Người ân cần dặn dò thêm: “Trời lạnh, chú cần giữ gìn sức khỏe và cố gắng làm tốt công tác.” Dặn dò xong, Bác trở lại ngôi nhà sàn để tiếp tục công việc. Lòng tôi dâng lên một nỗi xúc động mãnh liệt. Bác đã nhường chiếc áo ấm cho chúng tôi trong khi Người chỉ mặc một chiếc áo bông mỏng đã cũ. Lẽ ra chúng tôi phải là người chăm lo cho Bác nhiều hơn, vậy mà Bác lại luôn nghĩ đến chúng tôi nhiều đến thế.
Từ đó về sau, chúng tôi luôn trân trọng giữ gìn chiếc áo Bác cho như giữ gìn cả hơi ấm của Người. Hơi ấm ấy đã truyền thêm sức mạnh cho chúng tôi trên mỗi chặng đường công tác, mỗi nhiệm vụ được giao.
Bài học kinh nghiệm rút ra từ câu chuyện:
- Câu chuyện khắc họa rõ nét tình yêu thương vô bờ bến, sự quan tâm chân thành và sâu sắc của Bác dành cho những cán bộ, chiến sĩ phục vụ Người. Dù bận trăm công nghìn việc, nhưng chỉ cần thấy một người chiến sĩ cảnh vệ đang canh gác dưới trời lạnh bị ướt, Bác đã ngay lập tức chỉ đạo quân nhu tìm cách cung cấp áo ấm cho anh em. Một chiếc áo đơn sơ nhưng đã mang đến sự ấm áp về thể xác, ấm áp về tinh thần cho người chiến sĩ, và lan tỏa tình yêu thương đến hàng triệu trái tim người Việt Nam.
- Như lời bài hát của Thuận Nguyễn đã viết về Bác: “Bác Hồ, Người là tình yêu thiết tha nhất. Trong toàn dân và trong trái tim nhân loại. Cả cuộc đời Bác chăm lo cho hạnh phúc nhân dân. Cả cuộc đời Bác hy sinh cho dân tộc Việt Nam. Bác thương những cụ già xuân về gửi biếu lụa, Bác thương đàn cháu nhỏ trung thu gửi quà cho. Bác thương đoàn dân công đêm nay ngủ ngoài rừng, Bác thương người chiến sĩ đứng gác ngoài biên cương, Bác viết thư thăm hỏi gửi muôn vàn yêu thương.”
Câu chuyện số 2: Chiếc đồng hồ – Bài học về ý nghĩa của sự đoàn kết và tinh thần trách nhiệm
Giữa mùa thu năm 1954, Bác Hồ đã đến thăm Hội nghị rút kinh nghiệm cải cách ruộng đất tại tỉnh Hà Bắc. Tại hội nghị, có lệnh của Trung ương điều động một số cán bộ luân chuyển lên học lớp tiếp quản thủ đô. Sự kiện này đã gây ra tâm lý háo hức, mong muốn được về công tác ở thủ đô sau bao năm xa cách, đặc biệt là đối với những cán bộ quê ở Hà Nội. Ai nấy đều có nguyện vọng được cấp trên chiếu cố, ưu tiên. Điều này khiến tư tưởng của cán bộ tham dự hội nghị trở nên phân tán, gây khó khăn cho Ban lãnh đạo.
Trong bối cảnh đó, Bác Hồ đã bước lên diễn đàn. Dù trời mùa thu vẫn còn oi bức, mồ hôi thấm đẫm hai bên vai chiếc áo nâu, Bác vẫn hiền từ nhìn khắp hội trường và bắt đầu câu chuyện về tình hình thời sự. Khi nói đến nhiệm vụ chung của toàn Đảng, Bác bỗng rút trong túi áo ra một chiếc đồng hồ quả quýt và lần lượt hỏi các đồng chí cán bộ về chức năng của từng bộ phận trong chiếc đồng hồ ấy. Mọi người đều nhanh chóng trả lời đúng tất cả các câu hỏi của Bác.
Đến câu hỏi then chốt: “Trong cái đồng hồ, bộ phận nào là quan trọng?” – Mọi người còn đang suy nghĩ, thì Bác hỏi tiếp: “Trong cái đồng hồ, bỏ một bộ phận đi có được không?”
“Thưa không được ạ.” – Cả hội trường đồng thanh trả lời.
Nghe câu trả lời, Bác giơ cao chiếc đồng hồ và kết luận: “Các chú ạ, các bộ phận của một chiếc đồng hồ cũng ví như các cơ quan của một Nhà nước, như các nhiệm vụ của cách mạng. Đã là nhiệm vụ của cách mạng thì đều là quan trọng, đều cần phải làm. Các chú thử nghĩ xem: trong một chiếc đồng hồ mà anh kim đòi làm anh chữ số, anh máy lại đòi ra ngoài làm cái mặt đồng hồ… cứ tranh nhau chỗ đứng như thế thì còn là cái đồng hồ được không?”
Chỉ trong vài phút ngắn ngủi, câu chuyện chiếc đồng hồ của Bác đã khiến tất cả mọi người thấm thía và tự đánh tan đi những suy nghĩ cá nhân, vị kỷ của mình.
Cũng cùng chiếc đồng hồ ấy, vào cuối năm 1954, Bác đã đến thăm một đơn vị pháo binh đóng tại Bạch Mai, đang gấp rút luyện tập để chuẩn bị cho lễ duyệt binh mừng chiến thắng Điện Biên Phủ. Sau khi thăm nơi ăn, chốn ở của bộ đội, Bác đã dành thời gian trò chuyện với anh em. Bác lại lấy chiếc đồng hồ quả quýt ra, âu yếm nhìn mọi người rồi chỉ vào từng chiếc kim, từng chữ số và hỏi anh em về tác dụng của từng bộ phận. Mọi người đều trả lời đúng.
Bác vui vẻ nói tiếp: “Đã bao nhiêu năm nay, chiếc kim đồng hồ vẫn chạy để chỉ cho ta biết giờ giấc, chữ số trên mặt vẫn đứng yên một chỗ, bộ máy vẫn hoạt động đều đặn bên trong. Tất cả đều nhịp nhàng làm việc theo sự phân công ấy. Nếu hoán đổi vị trí từng bộ phận cho nhau thì có còn là chiếc đồng hồ nữa không!”
Sau câu chuyện của Bác, mọi người đều hiểu sâu sắc ý Bác dạy: Phải yên tâm hoàn thành nhiệm vụ mà cách mạng đã phân công. Bác đã mượn hình ảnh chiếc đồng hồ quả quýt này để giáo dục và động viên các kỹ sư trẻ tại trường Đại học Nông Lâm Hà Nội khi Người đến thăm trường vào ngày 24/5/1959. Khi khuyên sinh viên cố gắng học tập, Bác cũng lấy chiếc đồng hồ ra hỏi về các bộ phận của nó, từ kim giờ, kim phút, kim giây đến các bộ phận máy bên trong.

Sau đó, Bác kết luận: “Mỗi một bộ phận có chức năng làm việc riêng, có thể người ngoài không nhìn thấy được, nhưng đều có nhiệm vụ quan trọng để làm cho đồng hồ chạy và chỉ đúng giờ. Trong xã hội cũng vậy, sau khi học xong ra phục vụ các ngành nghề đều ngang nhau, không ai cao sang hơn ai, cho nên các cháu phải cố gắng yên tâm học tập, học tập thật giỏi để trở thành kỹ sư nông nghiệp giỏi, phục vụ nền nông nghiệp của nước nhà.” Đến ngày nay, câu chuyện về chiếc đồng hồ này vẫn được Giáo sư – Tiến sĩ Vũ Hoan, Chủ tịch Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Hà Nội, nguyên là cựu sinh viên trường Đại học Nông Lâm Hà Nội, người vinh dự được gặp Bác trong lần đó, kể lại và truyền cảm hứng cho thế hệ kỹ sư hôm nay.
Chiếc đồng hồ quả quýt ấy còn là một hiện vật vô giá, thể hiện tình cảm quốc tế đối với Bác. Đó là chiếc đồng hồ do Tổ chức Quốc tế “Cứu Tế đỏ” tặng, Bác luôn mang theo bên mình trong những năm tháng bị giam cầm đầy gian khổ cho đến ngày Việt Nam giành được độc lập.
Bài học kinh nghiệm rút ra từ câu chuyện:
- Đối với cơ quan, đơn vị chúng ta cũng vậy, chúng ta giống như một chiếc đồng hồ. Mỗi cá nhân, mỗi phòng ban là một bộ phận không thể thiếu. Tất cả đều có một nhiệm vụ riêng, dù lớn hay nhỏ, nhưng đều là một phần quan trọng trong một tổ hợp tập thể. Mỗi nhiệm vụ như một mắt xích nối lại với nhau. Để tạo nên một mối liên kết thực sự vững chắc thì mỗi chúng ta – một mắt xích – phải thực sự đoàn kết, nỗ lực, cố gắng phát huy khả năng của mình, hỗ trợ lẫn nhau để hoàn thành nhiệm vụ chung. Việc suy bì, tính toán thiệt hơn về quyền lợi, trách nhiệm hay lánh nặng tìm nhẹ sẽ dẫn đến mất đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiệm vụ chung của cả tập thể.
- Từ một chiếc đồng hồ giản dị, Bác đã gợi lên trong mỗi người một nhận thức sâu sắc về bài học quý giá. Đó là bài học về tinh thần đoàn kết, là hiện vật vô giá về sự gắn bó trong mỗi đơn vị, trong một quốc gia và cả trong tình đoàn kết quốc tế. Chúng ta cần đoàn kết để ổn định, để đổi mới và sáng tạo, để làm nên tất cả, bởi lẽ như Bác đã dạy: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”.
“`






